Dược tính của nấm vân chi

Vân Chi được chính thức nghiên cứu tại Nhật từ 1965, và đến nay đã có khoảng gần 1000 công trình khảo cứu về Vân Chi, từ thành phần hóa học của các phần ly-trích đến tác dụng trị liệu, thử nghiệm trên người bệnh và độc tính.

Dược tính của nấm thay đổi tùy theo phần ly trích được xử dụng: trong đó 2 nhóm chính là PSK, PSP hay dùng toàn bộ nấm.

A. Dược tính của PSK:

Đa số các nghiên cứu về Dược tính của PSK được thực hiện từ hợp chất trích từ mycelium của Chủng CM-101.Tuy cơ chế tác dụng của những hoạt chất chưa được xác nhận rõ ràng nhưng những kết quả thực tế nơi người bệnh đã chứng tỏ PSK thật sự có những tác dụng tốt về trị liệu ung thư như ung thư bao tử, thực quản, thanh quản, ruột già và phổi. ngoài ra PSK còn có tác dụng trên vài loại ung thư khác: ung thư thanh-quản, ung thư phổi, ung thư gan; ung thư bàng quan và ung thư vú. Kích ứng hệ Miễn nhiễm và Chống Oxy-hóa.

PSK tuy không phải là một thuốc đặc trị ung thư, nhưng thật sự có tác dụng cải thiện được thời gian sinh tồn, kéo dài thêm thời gian sống thêm đến 5 năm trong một số dạng ung thư và có những trường hợp đến được 15 năm.

B. Dược tính của PSP: được công nhận là không độc hại, có khả năng tăng cường hệ miễn nhiễm đủ để cải thiện tỷ lệ sinh tồn và phẩm chất đời sống nơi bệnh nhân ung thư.

Xét chung PSP cải thiện được mọi triệu chứng bệnh học: gảm bớt được những trạng thái cơ thể thường xẩy ra nơi bệnh nhân ung thư như mệt mỏi, biếng ăn, buồn nôn, khát nước, toát mồ hôi lạnh, đau đớn.. PSP còn làm nhẹ bớt các suy nhược gây ra bởi độc tố khi dùng hóa chất trị liệu, giúp lên cân, và ổn định tình trạng miễn nhiễm.

C. Dược tính của Trích tinh quả thể (Fruitbody extract):

Trích tinh này cũng giúp hạ cholesterol trong máu nơi thú vật và khi cho dùng chung với Astragalus membranicus còn giúp tăng hoạt cho các neutrophil giúp mau lành vết thương nơi thỏ bị phỏng.

D. Vài tác dụng của một số hoạt chất khác:

  • Gia tăng tiềm lực kháng khuẩn và kéo dài tác dụng kháng khuẩn của các chất kháng sinh, đồng thời gia tăng sự mẫn cảm với chất kháng sinh nơi những vi khuẩn kháng thuốc.
  • Có khả năng trị huyết áp cao, tiểu đường, chặn sự tạo cục máu gây nghẽn tắc, và cả phong thấp.
  • Có thêm tác dụng trị đau, hạ nhiệt, hạ mỡ trong máu và giúp trị tim loạn nhịp.
  • Ngoài ra còn tái lập lại các hoạt động của thận khi bị sưng tiểu-quản, protein cao trong nước tiểu.

Trích từ: http://www.tvvn.org/forum/showwiki.php?title=Chapter:N%E1%BA%A5m_V%C3%A2n_Chi_-_Tr%E1%BA%A7n_Vi%E1%BB%87t_H%C6%B0ng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s