Bao giờ có thương hiệu nấm Việt Nam? – Bài 3

 

 

Bài 1: “Giàu nhà, sạch ruộng”

Bài 2: Những rào cản

Bài 3: Thị trường phải đi trước một bước

KTNT – Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm về nấm cả trong và ngoài nước đang ngày càng tăng, do đó, nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta cần phải xây dựng một hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả, tránh tình trạng khủng hoảng thiếu hoặc thừa như một số nông sản khác. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết:

Trước hết, phải xác định sản xuất nấm là một nghề, nấm không những là loại thực phẩm ngon, giàu chất dinh dưỡng mà nhiều loài nấm còn có tác dụng như một vị thuốc, giúp tăng cường sức khỏe cho con người. Những công dụng đó đã thúc đẩy sự phát triển của ngành nấm trên toàn thế giới, sản lượng nấm hàng năm đều tăng, đạt tới 25 triệu tấn và không đủ hàng cung ứng cho thị trường toàn cầu, nhất là nấm muối, nấm khô, nấm mỡ… Trong khi đó, ở nước ta, nghề nấm vẫn rất khiêm tốn, sản lượng năm 2011 mới đạt trên 100.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 90 triệu USD, thị trường mới vươn ra 31 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Gia đình chị Xoan ở xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom trồng nấm mèo đạt hiệu quả cao.

Thế mạnh của nghề nấm là không những tạo ra sản phẩm hàng hóa có thị trường, mà còn là sản phẩm hàng hóa có thể khai thác, tận dụng được thế mạnh của nền nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực phía Nam, nơi rất dồi dào về vùng nguyên liệu, lao động, đất đai, thời tiết khí hậu…, tất cả những điều kiện này, ở vùng nào của Việt Nam cũng có.

Chúng ta có tiềm năng lớn, nhưng điều quan trọng là làm thế nào để biến tiềm năng ấy thành hiện thực. Muốn vậy, chúng ta phải có đề án. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao Cục Trồng trọt xây dựng đề án phát triển nghề nấm và cho đến nay, cơ bản chúng tôi đã xây dựng xong, hy vọng sẽ trình trong tháng 7. Đề án đã nói rõ mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, các quan điểm, giải pháp, đi theo đó là các dự án liên quan…

Thưa ông, hiện nay đa phần người dân trồng nấm theo kiểu tự phát, quy mô nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu. Vậy ngành nông nghiệp đã có định hướng, kế hoạch gì để liên kết những người trồng nấm với nhau?

Để phát triển nghề nấm ổn định, bền vững, chúng ta phải có tổ chức và tổ chức đó phải tập hợp được các thành phần kinh tế cùng chí hướng. Về điều này, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã giao Cục Trồng trọt xây dựng đề án thành lập Hiệp hội Nấm Việt Nam. Tôi đã có trong tay dự thảo Ban vận động thành lập Hiệp hội này và đang chuẩn bị trình Bộ xem xét.

Về cơ bản, Hiệp hội phải tập hợp được lực lượng quan trọng nhất hiện nay là các doanh nghiệp (DN). Đất nước mạnh trên cơ sở có DN, chứ không phải là quản lý Nhà nước hay quy hoạch chính sách. Chúng ta có đề án, chủ trương mà không có DN thực hiện thì sẽ không đạt được kết quả gì. Mà động cơ quan trọng nhất của các DN chính là lợi nhuận, họ luôn phải tìm cách đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường để làm sao lợi nhuận đạt mức cao nhất, do đó, mục đích của Hiệp hội phải là tập hợp được nhiều DN cùng chí hướng, cùng mục đích xây dựng và phát triển nghề nấm, lấy động lực sản xuất kinh doanh nghề nấm của các DN để thúc đẩy nghề nấm phát triển.

Đương nhiên, tham gia vào Hiệp hội còn có nhiều thành phần không kém phần quan trọng khác, đó là nông dân, các nhà khoa học, nhà quản lý. Vì vậy, chúng ta phải tập hợp được càng đông đảo người tham gia càng tốt, trong đó điểm nhấn là các công ty, DN trên cả nước. Nếu Hiệp hội được phê duyệt thành lập, Cục Trồng trọt sẽ tiến hành ngay, và tôi xung phong làm Trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội.

Sản xuất nấm là ngành đi sau nhiều ngành nông nghiệp khác. Xin ông cho biết, chúng ta có dọn đường để nấm phát triển bền vững, tránh hiện tượng chặt đi trồng lại, được mùa rớt giá như các nông sản khác không?

Muốn phát triển sản phẩm nông sản nói chung, cần phải tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm, từ khâu nghiên cứu, trồng trọt, thu hoạch đến chế biến, tiêu thụ, trong đó, nhân tố thúc đẩy chuỗi này phải là thị trường trong nước và xuất khẩu.

Trước hết, nấm là loại thực phẩm tươi, không chỉ người dân thành thị mà cả người dân nông thôn đều nhận thấy nấm là thực phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng, và chúng ta cần kích thích thị trường tiêu thụ trong nước. Đây là thị trường vô cùng dồi dào, ổn định, mang tính chất quyết định tới việc duy trì sự bền vững của nghề. Hiện nay, mức tiêu thụ nấm ăn bình quân đầu người của dân Việt Nam còn rất thấp, chỉ bằng 1/5 của Trung Quốc, trong tương lai, chúng ta cố gắng nâng mức tiêu thụ nấm bình quân lên bằng nửa Trung Quốc thì cũng đã đủ để nghề nấm phát triển mạnh mẽ. Và muốn tiêu thụ trong nước, chúng ta phải khuyến khích các DN xây dựng thương hiệu, khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, kích cầu tiêu dùng, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của người tiêu dùng.

Thứ hai là thị trường nước ngoài hiện nay rất rộng mở, ngày càng có nhiều người ưa thích các sản phẩm nấm, cung không đủ cầu nên nếu đẩy mạnh xuất khẩu, chúng ta sẽ thu được kim ngạch không nhỏ.

Thứ ba là nước ta có nguồn lao động dồi dào, nguồn nguyên liệu trồng nấm vô cùng phong phú. Hàng năm, Việt Nam làm ra 42 triệu tấn thóc, đồng nghĩa chúng ta có 50 triệu tấn rơm, nếu chỉ để đốt như lâu nay thì quá lãng phí, trong khi rơm là nguyên liệu để trồng nấm, ở nhiều nước người ta còn phải đi mua rơm. Dần dần, chúng ta sẽ phải sử dụng tốt nguồn nguyên liệu này để trồng nấm.

Trên đây là những cơ sở để chúng ta tin tưởng cho tương lai của nghề nấm. Sự băn khoăn trên là hoàn toàn có cơ sở, bởi bất cứ nền sản xuất hàng hóa nào muốn phát triển bền vững, ổn định thì việc xây dựng thương hiệu, xây dựng thị trường phải đi trước một bước. Ngành nấm của Việt Nam đang có nhiều tín hiệu tốt, và muốn khai thác hiệu quả, chúng ta phải tập trung xây dựng thị trường. Đề án phát triển nấm cũng đang tập trung nhiều vào nội dung này, sẽ có những giải pháp nhằm góp phần tránh tình trạng sản xuất ra không biết bán ở đâu, hay sản xuất dư thừa khiến sản phẩm mất giá, người dân bỏ nghề… như một số trường hợp đã xảy ra với cây điều, sắn, càphê…

Đi đôi với những điều đó, hiện nay nghề nấm còn có nhiều thuận lợi hơn nữa khi Chính phủ đưa nấm vào danh mục sản phẩm quốc gia, thực hiện từ năm 2012. Tuy là sản phẩm dự bị, nhưng việc được Chính phủ, Nhà nước quan tâm đã là cơ sở tốt để chúng ta phát triển mạnh nghề này. Theo đó, chúng ta cần chú ý xây dựng thị trường trong nước, thị trường xuất khẩu, tiến tới xây dựng chuỗi sản phẩm chặt chẽ từ đầu tới cuối, trong đó, yếu tố thị trường phải được ưu tiên hàng đầu.

Ông có thể cho biết cụ thể hơn về vấn đề xây dựng thương hiệu nấm Việt Nam?

Chúng ta phải hiểu rằng thương hiệu thường gắn với một DN, với vị trí địa lý, sản phẩm quốc gia. Đã nói đến thương hiệu, nghĩa là sản phẩm đó phải có chuỗi giá trị từ A – Z, tức là từ nghiên cứu phát triển sản xuất, nuôi trồng cho tới thị trường tiêu thụ. Chúng ta đang xây dựng thương hiệu ngành nấm theo 2 hướng, thứ nhất là gắn với thương hiệu từng loại sản phẩm, ví dụ nấm đùi gà, nấm kim châm (tức là gắn với nội dung sản phẩm), thứ hai là gắn với DN cụ thể để có sản phẩm đột phá, ví dụ như hiện nay chúng ta đã có Công ty cổ phần Việt Mỹ của ông Trương Văn Mười ở Đồng Tháp. Ông ta làm nấm rơm, nấm sọ, nhưng vùng tiêu thụ sản phẩm thì bát ngát, sang cả Đông Âu…, do ông ta đã xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình.

Câu hỏi đặt ra là ai làm những thương hiệu đó? Ở đây, DN là nhân tố chính, thế nhưng Nhà nước cũng phải có hỗ trợ chứ không thể để DN tự bơi. Có lẽ, chúng ta phải có cơ chế riêng về việc hỗ trợ này. Theo như tôi biết, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có một chương trình hỗ trợ các DN, địa phương xây dựng thương hiệu sản phẩm và chương trình sản phẩm quốc gia cũng nằm trong cái đó, trên cơ sở ấy, người trồng nấm sẽ có nhiều cơ hội phát triển sản phẩm của mình.

Xin cảm ơn ông!

Mục tiêu tổng quát của Đề án phát triển nấm đến năm 2020 là hình thành ngành sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu theo hướng sản xuất hàng hoá, tập trung, quy mô công nghiệp, từng bước ứng dụng công nghệ cao; có sự gắn kết chặt chẽ từ nghiên cứu, sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ, tạo thương hiệu nấm Việt Nam trên thị trường quốc tế; góp phần giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra nguồn hàng hoá lớn có giá trị kinh tế cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Mục tiêu cụ thể là đến năm 2015, sản xuất và tiêu thụ đạt khoảng 400.000 tấn nấm các loại, trong đó nội tiêu 300.000 tấn (75%), xuất khẩu 100.000 tấn (25%); tổng giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 30.000 tỷ đồng/năm, tổng giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 12.000 tỷ đồng/năm, giá trị xuất khẩu đạt 150 – 200 triệu USD/năm.

Đến năm 2020, sản xuất và tiêu thụ đạt khoảng 1 triệu tấn nấm các loại, trong đó 50% xuất khẩu và 50% tiêu thụ nội địa; tạo được khoảng 1 triệu việc làm từ nghề nấm; giá trị xuất khẩu đạt 450 – 500 triệu USD/năm.

Tối thiểu 50% sản lượng nấm được sản xuất tập trung theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, tạo ra nguyên liệu đầu vào ổn định cho các nhà máy chế biến.

Một số giải pháp chính: xây dựng quy hoạch phát triển nấm ăn và nấm dược liệu trên cả nước đến năm 2020; tổ chức sản xuất theo hướng hàng hoá, chuyên nghiệp, gắn kết sản xuất – tiêu thụ; tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; xây dựng hoàn thiện hệ thống giống nấm từ Trung ương đến cơ sở; đẩy mạnh đào tạo, khuyến nông, tuyên truyền; tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất; phát triển thị trường tiêu thụ nấm; đề xuất trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách đặc thù cho phát triển ngành nấm…


Minh Huệ (thực hiện)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s