Bao giờ có thương hiệu nấm Việt Nam? – Bài 2

Bài 1: “Giàu nhà, sạch ruộng”

Bài 2: Những rào cản

KTNT – Dù có nhiều thuận lợi song sản xuất nấm ở nước ta vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước trong khu vực và trên thế giới cả về công nghệ, năng suất, chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm. Như nhiều loại nông sản khác, ngành nấm vẫn vấp phải những rào cản “biết rồi, khổ lắm nói mãi”, như quy mô nhỏ lẻ, thủ công; trình độ lao động thấp; chưa hình thành được chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ khép kín.

Thiếu nhân lực chuyên sâu về nấm

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), mặc dù có nhiều thuận lợi để phát triển nghề nấm, cả về nguồn nguyên liệu, lao động, điều kiện thời tiết, đất đai và thị trường, song nghề nấm cũng không tránh được những khó khăn mà lâu nay đã được nhắc đến nhiều. Cụ thể là về sản xuất, quy mô của ngành nấm còn nhỏ lẻ, mức đầu tư thấp, chủ yếu sản xuất thủ công, theo mùa vụ, dẫn tới năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm hạn chế (không đồng đều về chất lượng, kích thước, mẫu mã), giá thành cao… Hệ quả của việc sản xuất thiếu chuyên nghiệp này là sức cạnh tranh của sản phẩm nấm rất kém trên cả thị trường trong nước lẫn ngoài nước, hơn nữa lại chưa tạo ra được vùng sản xuất hàng hóa lớn, có khả năng cung ứng sản phẩm ổn định cho thị trường. Tình trạng trên khiến giá nấm xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 60% so với sản phẩm cùng loại được sản xuất tại Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc…

Cũng theo Cục Trồng trọt, hiện các nghiên cứu khoa học về nấm chưa thực sự đủ mạnh như các ngành trồng trọt khác, giống nấm còn khiêm tốn về chủng loại (mới có 3 giống được công nhận chính thức, 7 giống đang được công nhận cho sản xuất thử); công nghệ nuôi trồng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời tiết…

Tuy vậy, theo Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật (Viện Di truyền nông nghiệp – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), nghề nấm ở Việt Nam chậm phát triển là do chúng ta quá thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên sâu về nấm. Hiện, cả nước chưa có nơi nào đào tạo chuyên về ngành nấm, từ bậc sơ cấp nghề cho tới trên đại học, cũng chưa có Viện Nghiên cứu nấm quốc gia. Phần lớn cán bộ phải tự nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, và người sản xuất nấm hiện nay cũng đều phải tự học và đúc rút kinh nghiệm trồng nấm qua thực tiễn sản xuất.

Cũng theo Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật, nấm là loại thực phẩm cao cấp như các loại thịt nên việc thu hái, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, tổ chức tiêu thụ phải được thực hiện rất khoa học. Nếu không bảo quản lạnh (ở nhiệt độ 2-4 độ C) hoặc sơ chế muối, sấy khô thì chỉ sau 24 giờ, nấm đã bị hỏng. Trong khi đó, nhận thức của người dân về việc tiếp nhận kỹ thuật nhân giống, nuôi trồng, bảo quản, chế biến hiện nay còn nhiều hạn chế. Nấm còn là loại cây trồng rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, sâu bệnh…, do đó, nếu người sản xuất không nắm vững quy trình kỹ thuật, coi việc trồng nấm… dễ như trồng rau thì hiệu quả kinh tế sẽ thấp. Vì vậy, trồng nấm phải được coi là một nghề, và nghề này cần phải có sự đầu tư đồng bộ về tri thức, kinh tế và quyết tâm cao mới mong phát triển bền vững.

Được biết, việc nghiên cứu và sản xuất nấm ở nước ta đã được hình thành từ những năm 1970, nhưng quá trình phát triển cũng hết sức thăng trầm. Nhiều đơn vị sản xuất nấm đã phải giải thể trong những năm 1990 vì thị trường tiêu thụ bấp bênh như Công ty Nấm Hà Nội, Xí nghiệp Nấm TP. Hồ Chí Minh và hàng chục cơ sở nấm nhỏ lẻ khác…

Điều đáng buồn là, cho đến nay, trên địa bàn cả nước chưa có nhà máy nào chuyên chế tạo, cung cấp cho người sản xuất các thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu, sản xuất, bảo quản nấm, khiến các công đoạn trồng nấm từ xử lý nguyên liệu (rơm rạ, mùn cưa, bã mía, thân lõi ngô…) đến chăm sóc, thu hái… đều phải làm hoàn toàn thủ công, dẫn tới năng suất lao động thấp, chất lượng nấm thương phẩm không đồng đều.

Ngoài ra, hệ thống nhà xưởng để trồng nấm tại các cơ sở còn quá đơn giản, chủ yếu làm bằng tranh tre, nứa lá nên chưa đảm bảo các yếu tố môi trường thuận lợi cho cây nấm phát triển. Về điều này, anh Nguyễn Văn Quang ở xã Khánh Phú (Yên Khánh – Ninh Bình) cho biết: “Để đầu tư được một lán trại sản xuất nấm theo đúng tiêu chuẩn thì chi phí lớn nhất là tiền xây nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, và phải khấu hao từ 5-10 năm, trong khi đó, đa phần nông dân chúng tôi đều gặp khó khăn về nguồn vốn nên lâu nay vẫn làm theo kiểu được đến đâu hay đến đó. Ngoài ra, tâm lý bà con hiện vẫn coi nấm là loại cây trồng lúc nông nhàn nên chưa mạnh dạn đầu tư và chưa thể vươn tới sản xuất theo quy mô công nghiệp”.

Khó về chính sách, thị trường

Theo ông Nguyễn Phú Ban, Chủ tịch Hội Nông dân TP. Đà Nẵng, nghề trồng nấm tại địa phương đã có từ lâu, nhưng sản xuất vẫn còn ở quy mô nông hộ, trong khi đó, việc phát triển các mô hình sản xuất nấm đang là hướng đi đúng, phù hợp với chủ trương xây dựng nền nông nghiệp đô thị mà thành phố đang hướng tới. Nếu thành phố sớm có quan tâm đúng mức cho cây nấm, nhất là nếu có một chương trình, kế hoạch đầu tư đúng hướng thì nấm sẽ trở thành nghề chính ở một số vùng, làm giàu cho nông dân, nhất là vùng ngoại thành.

Tuy nhiên, thực tế là TP. Đà Nẵng vẫn chưa có một cơ quan chủ quản thật sự để giao chỉ tiêu, kế hoạch làm cơ sở cho các hợp tác xã, tổ hợp tác, nông hộ làm nghề nấm phấn đấu thực hiện (hiện nay, kế hoạch sản xuất đều do bà con tự lập ra). Bên cạnh đó, các HTX, tổ sản xuất trên địa bàn cũng chưa được hưởng những ưu đãi về đất đai, nhân lực như các HTX nông nghiệp khác, điều này dẫn tới việc HTX sản xuất nấm không thể tiếp cận được vốn vay từ các tổ chức tín dụng để có điều kiện mở rộng sản xuất. “Việc chưa có cơ chế riêng cho ngành nấm cũng là một trong những nguyên nhân khiến nghề trồng nấm gặp nhiều thăng trầm, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng vốn có; người trồng nấm thu nhập không ổn định và gặp nhiều rủi ro, có khi thua lỗ”, ông Ban cho biết.

Cũng theo ông Ban, qua tính toán thực tế thấy, nếu xây dựng nhà xưởng chuyên trồng nấm trên diện tích 1ha thì có thể giải quyết được việc làm cho 30 – 40 lao động, với mức thu nhập khoảng 3,5 – 4 triệu đồng/người/tháng. “So với trồng trọt, chăn nuôi thì trồng nấm không cần nhiều diện tích đất mà còn giải quyết được việc làm cho nhiều lao động. Do đó, rất mong các cấp lãnh đạo sớm tạo cơ chế, chính sách để chúng tôi có điều kiện xây dựng các gia trại, trang trại, công ty chuyên trồng nấm”, ông Ban phân tích.

Theo nhận định của ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, hiện thị trường tiêu thụ nấm cả trong và ngoài nước chưa thực sự ổn định. Ở trong nước, nấm chủ yếu tiêu thụ nhỏ lẻ ở các chợ và nhà hàng do người dân chưa có thói quen dùng các sản phẩm về nấm (mức tiêu thụ nấm bình quân của người dân Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Trung Quốc); về xuất khẩu, nấm mới xuất đi 31 quốc gia, vùng lãnh thổ, với giá bán khá khiêm tốn, còn Hàn Quốc thì đã xuất khẩu sản phẩm nấm của mình đi 80 quốc gia, trong đó có cả Việt Nam.

Ông Cổ Đức Trọng, Giám đốc Công ty TNHH Linh Chi VINA (TP. Hồ Chí Minh) băn khoăn: “Thời gian qua, thị trường nấm trong nước đã hình thành và phát triển khá tốt, song 80-90% lượng nấm tiêu thụ trên thị trường, nhất là tại các siêu thị, vẫn do nấm Trung Quốc thống trị. Chúng ta có nhiều tiềm năng phát triển nghề nấm như thế, vậy phải làm gì để giành lại thị phần có sẵn hết sức dồi dào này?”.

Đồng quan điểm trên, TS. Phạm Thành Hồ (Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, chúng ta đang để lãng phí thị trường trong nước là do nghề nấm chưa hình thành được chuỗi liên hoàn từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến… tới tiêu thụ. Các sản phẩm nấm bán ngoài chợ hầu hết chỉ được đóng trong bao nylon tạm bợ, chưa được gắn nhãn mác của nơi sản xuất, chưa có thương hiệu, nhãn hiệu nên người tiêu dùng e ngại sử dụng.

Theo Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật, để khắc phục những nhược điểm trên, các cấp chính quyền từ địa phương đến Trung ương cũng như các ngành hữu quan cần coi nấm là sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp, cần đưa vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng trong các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Từ kinh nghiệm của một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… thấy, họ đã xây dựng một ngành công nghiệp nấm rất thành công, thu về lợi nhuận cao là do có chiến lược đầu tư bài bản.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Bùi Bá Bổng khẳng định, nấm đã được xác định là một trong những cây trồng nằm trong nhóm sản phẩm quốc gia với rất nhiều tiềm năng, vì thế chúng ta cần đẩy mạnh xây dựng ngành sản xuất nấm hàng hóa, tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Việc sản xuất nấm ở Việt Nam hiện tụt hậu rất xa so với những nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc… về sản lượng và công nghệ. Vì vậy, phải tìm ra vị thế riêng nếu muốn tham gia thị trường, trước hết là trong nước. Trong đó, các doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút nông dân tham gia trồng nấm.

 Minh Huệ – Kinh Tế Nông Thôn

Bài 3: Thị trường phải đi trước một bước

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s